Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2017

Giá vàng bị giảm mạnh, USD ngân hàng đi lên

Mỗi lượng vàng SJC sáng nay điều chỉnh giảm 140.000 đồng do thị trường thế giới vừa có phiên đi xuống mạnh. Trong khi đó, giá USD ngân hàng quay đầu đi lên.

Tập đoàn DOJI mở cửa đầu ngày ở giá 35,07-35,11 triệu đồng một lượng, giảm 140.000 đồn​g chiều mua và bán so với sáng hôm qua. Cùng lúc, Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận niêm yết giá quanh 35,06-35,12 triệu đồng. Biên độ mua bán duy trì quanh 60.000 đồng mỗi lượng.
Giá vàng trong nước giảm sáng nay chủ yếu do tác động của thị trường thế giới. Chốt phiên Mỹ hôm qua, mỗi ounce vàng quốc tế mất hơn 17 USD (khoảng 440.000 đồng), xuống dưới 1.176 USD.
Tuy nhiên, giá đã phục hồi trong giờ giao dịch châu Á sáng nay. Lúc 9h, giờ Hà Nội, mỗi ounce lên sát 1.178 USD. Quy ra tiền Việt tương đương 30,42 triệu đồng (chưa gồm thuế, phí...).
gia-vang-pnj-1-7572-1388110088-3421-2261
Giá vàng sụt mạnh trong phiên sáng nay. Ảnh: PV
Giá trong nước thời gian gần đây có xu hướng tăng nhanh, giảm chậm hơn so với thế giới nên khoảng chênh giữa hai thị trường lại mở rộng. Sáng nay, mức vênh duy trì quanh 4,7 triệu đồng, cao hơn tuần trước vài trăm nghìn đồng.
Hiện nay, tuy thị trường có sôi động đôi chút nhưng do độ chênh còn lớn nên chưa đủ để kích thích nhà đầu tư lớn tham gia. Do đó, giao dịch chủ yếu phát sinh với khách hàng nhỏ lẻ khiến tổng lượng mua bán của các doanh nghiệp lớn chỉ dừng lại con số vài trăm lượng mỗi ngày.
Trên thị trường ngoại tệ, giá USD đi lên sáng nay. Theo đó, mỗi đôla Mỹ tại Eximbank đã tăng 15 đồng vào sáng nay, lên sát 21.420 đồng. Mua vào dao động 21.350 đồng. Giá mua và bán của ACB tương tự Eximbank.
Trong khi đó, giá bán ra tại Vietcombank, lúc 9h10 thấp hơn hai ngân hàng trên 15 đồng, duy trì quanh 21.405 đồng, nhưng mua vào cao hơn 10 đồng, dao động 21.360 đồng.
Ngược lại, đôla Mỹ tự do sáng nay đã chững đà tăng sau khi đi lên mạnh trong ngày hôm qua. Theo đó, mỗi USD hiện được các đầu mối kinh doanh mua bán 21.520-21.570 đồng, không có nhiều thay đổi so với đầu ngày 22/12.

Nga cứu trợ cho ngân hàng đầu tiên

Trust Bank (Nga) sẽ nhận được tối đa 30 tỷ rouble (530 triệu USD) từ ngân hàng trung ương để không bị phá sản. 

Đây là ngân hàng đầu tiên cần Nga cứu trợ trong cuộc khủng hoảng đồng rouble. Ngân hàng trung ương Nga cũng cho biết Cơ quan Bảo hiểm Tiền gửi - bộ phận quản lý các ngân hàng bị ảnh hưởng vì khủng hoảng - sẽ tiếp quản việc giám sát nội bộ của Trust Bank từ thứ Hai.
Các biện pháp này "sẽ giúp Trust Bank tiếp tục hoạt động thanh toán. Tất cả khách hàng của nhà băng, trong đó có người gửi tiền, vẫn có thể sử dụng dịch vụ như bình thường", Ngân hàng trung ương Nga tuyên bố hôm qua.
trust-bank-jpeg-7699-1419303829.jpg
Trust Bank là ngân hàng đầu tiên cần Nga cứu trợ. Ảnh: Reuters
Trust Bank là ngân hàng lớn thứ 32 tại Nga về giá trị tài sản, theo Interfax. Đây cũng là nhà băng lớn thứ 15 về tài khoản cá nhân. Họ đã mời diễn viên Bruce Willis làm đại diện trong hàng loạt quảng cáo thời gian qua.
Tính đến ngày 1/12, Trust Bank nắm giữ 145 tỷ rouble (2,63 tỷ USD) tiền gửi cá nhân. Tuần trước, Bộ Tài chính Nga đã đề xuất tăng gấp đôi bảo hiểm tiền gửi, lên 1,4 triệu rouble (25.000 USD) nếu một nhà băng phá sản.
Dưới áp lực của đồng rouble lao dốc và các lệnh trừng phạt của phương Tây vì cuộc khủng hoảng Ukraine, ngành ngân hàng Nga có thể sẽ nhận được 1.000 tỷ rouble (18 tỷ USD) hỗ trợ vốn, theo luật mới được Chính phủ thông qua cuối tuần trước. Ngân hàng trung ương cũng cho biết sẽ sớm chọn một nhà đầu tư để cứu trợ Trust Bank, rất có thể là một trong các nhà băng lớn nhất nước.

Chiến tranh kinh tế đang dần thịnh hành

Chiến tranh từng là chuyện khó tránh khỏi khi nỗ lực ngoại giao thất bại. Giờ đây thay vì dùng vũ khí để tấn công nhau, các nước thường xử nhau trên mặt trận kinh tế.


Trừng phạt là biện pháp nằm giữa lên án và không kích. Chúng rất khó bị kiểm soát, khó đo lường ảnh hưởng, có thể ảnh hưởng đến dân thường và các doanh nghiệp hoạt động hợp pháp. Mới đây nhất, phương Tây đã áp đặt hàng loạt lệnh trừng phạt lên Nga sau vụ nước này sáp nhập Crimea, đồng thời cáo buộc Nga hỗ trợ quân ly khai tại miền đông Ukraine.
Việc sử dụng kinh tế thay quân sự đã dần phổ biến từ đầu thế kỷ 21, Bloomberg cho biết. Từ năm 2000, Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Australia, Canada, Japan, Israel, Nga, Hàn Quốc và nhiều tổ chức quốc tế khác đã áp đặt ít nhất 20 chương trình trừng phạt lên các quốc gia, như Myanmar, Sudan và Syria.
sanction-1-6931-1419248090.png
Các nước là mục tiêu trừng phạt trên thế giới, tính đến năm 2012 (vòng tròn xanh). Ảnh: Bloomberg
Tuy nhiên, không một quốc gia nào sử dụng công cụ này nhiều hơn Mỹ, với đủ các kiểu trừng phạt, từ hạn chế nhập khẩu, xuất khẩu, đầu tư, giao dịch tài chính, với tổng cộng hơn 110 lần trong thế kỷ trước. Mục đích của họ là buộc các quốc gia khác thay đổi chính sách, chấm dứt các chương trình vũ khí, hay thậm chí lật đổ cả Chính phủ.
Bộ Tài chính Mỹ đã trở thành cơ quan an ninh quốc gia nổi bật nhất từ sau vụ tấn công khủng bố 11/9. Họ tự gọi mình là "những người lính du kích trong bộ vest xám", quản lý tới 37 chương trình trừng phạt nhắm vào các Chính phủ, cá nhân, nhóm khủng bố và tội phạm ở 20 quốc gia.
Phương pháp của họ rất đa dạng, từ phong tỏa tài sản của các ông trùm thuốc phiện Mexico, các tài phiệt Nga, đến cấm buôn bán với Iran và Triều Tiên. Các lệnh trừng phạt của Mỹ và EU áp lên Iran từ năm 2010 đã khiến nhiều nước nhập dầu của Iran e ngại. Từ đó bóp nghẹt hoạt động kinh tế của nước này, đẩy nội tệ lao dốc, lạm phát tăng cao.
sanction-2-1-5389-1419248090.jpg
Số vụ trừng phạt những nhóm nước này đang áp dụng lên các nước khác. Ảnh: Bloomberg
Việc này đã giúp ông Hassan Rouhani thắng cử Tổng thống năm 2013, do ông cam kết giúp Iran nới lỏng lệnh trừng phạt. Chỉ trong vài tháng sau đó, Iran quay trở lại bàn đàm phán hạt nhân và đạt được các thỏa thuận nhượng bộ lịch sử, tuy quy mô vẫn còn hạn chế.
Lệnh trừng phạt kinh tế đầu tiên được ghi nhận trong lịch sử nhằm tác động lên chính trị là từ thời Hy Lạp cổ đại. Năm 432 trước Công nguyên, thành phố Megara đã cấm giao thương với Athens.
Đến năm 1812, Bộ Tài chính Mỹ lần đầu tiên triển khai các lệnh trừng phạt lên Anh. Cựu Tổng thống Mỹ - Woodrow Wilson là lãnh đạo đầu tiên của thời hiện đại cổ vũ sử dụng trừng phạt tài chính thay thế quân sự.
Các biện pháp trừng phạt hiệu quả nhất là những kiểu được áp dụng bởi nhiều quốc gia cùng lúc. Việc cả thế giới tẩy chay nạn phân biệt chủng tộc ở Nam Phi hồi thập niên 80 đã giúp người da đen lấy lại quyền lực sau này.
Tuy nhiên, trường hợp gây ra hậu quả không mong muốn nhất có lẽ là lệnh cấm nhập khẩu dầu mà Mỹ áp lên Nhật Bản, châm ngòi cho hàng loạt sự kiện dẫn đến cuộc tấn công Trân Châu Cảng sau này. Các lệnh trừng phạt lên chính quyền Saddam Hussein tại Iraq cũng bị chỉ trích là vô dụng, bừa bãi và lệch lạc. Dù vậy, khi nghiên cứu lại, chúng đã được xác nhận là giúp chặn đứng nguồn tài chính cho việc triển khai vũ khí hủy diệt hàng loạt của Hussein.
Những cuộc tranh luận về loại trừng phạt nào có thể khiến Nga ngừng can thiệp vào Ukraine đã cho thấy việc áp dụng thành công cần phải khéo léo đến mức nào. Mối quan hệ thương mại mật thiết của EU, trong đó có phụ thuộc vào khí đốt Nga, đã làm dấy lên mối lo cấm vận quy mô lớn có thể phản tác dụng với các doanh nghiệp Mỹ và châu Âu. Ban đầu, các lệnh trừng phạt chủ yếu nhắm vào các cá nhân, ngành công nghiệp và tổ chức tài chính, không bao gồm lương thực và hàng hóa nhân đạo.
Tháng 7/2014, Mỹ và EU tăng gấp đôi quy mô trừng phạt, khi hạn chế các công ty Nga tiếp cận thị trường, vốn và công nghệ phương Tây. Đến tháng 9, các lệnh trừng phạt thắt chặt hơn vào các lĩnh vực tài chính, năng lượng và quốc phòng. Việc này đã khiến nhiều công ty Mỹ và châu Âu phải ngừng hợp tác khai thác dầu với Nga.
Đến tháng 11, khi Khối Quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) kết luận Nga đã gửi xe tăng và quân đội sang miền đông Ukraine, các bộ trưởng EU đã đồng ý áp nhiều lệnh trừng phạt và cấm đi lại lên các cá nhân Nga. Tháng này, tác động kép của lệnh trừng phạt và giá dầu giảm đã khiến rouble Nga sụp đổ. Câu hỏi đặt ra là liệu thế đã đủ để khiến Tổng thống Nga - Vladimir Putin toát mồ hôi hay chưa?
Những quốc gia dân chủ hoặc bán dân chủ để ý đến quan điểm quốc tế, hoặc phụ thuộc vào thương mại và tài chính toàn cầu thì có thể. Nhưng các nước khác thì không.
Lệnh cấm vận của Mỹ lên Triều Tiên áp đặt từ năm 1950 hầu như không thay đổi được chế độ và chính sách nước này. Đến tháng 12/2014, Mỹ thay đổi biện pháp với Cuba, sau nửa thập kỷ trừng phạt kinh tế. Khi thông báo bình thường hóa quan hệ ngoại giao và thương mại với nước này, Tổng thống Mỹ - Barrack Obama cho biết nó sẽ chấm dứt "biện pháp lỗi thời không mang lại lợi ích cho ai cả".

Apple khôi phục hoạt động ở Nga, tăng giá 35%

Hãng vừa mở lại website bán hàng online tại Nga, đồng thời nâng giá iPhone lên thêm 35% do đồng rouble mất giá quá mạnh so với USD


Đây là lần thứ 2 trong gần một tháng Apple tăng giá sản phẩm tại Nga. Hiện một chiếc iPhone 6 16Gb ở đây có giá 53.990 rouble (956 USD). Giá trước đây là 39.990 rouble. Tuần trước, Apple đã phải ngừng bán online tại Nga do đồng rouble biến động quá mạnh.
iphone-3806-1419319414.jpg
Giá iPhone tại Nga đã tăng gần 70% so với một tháng trước. Ảnh: Reuters
Đồng rouble đã mất khoảng 30% so với USD trong quý này, do giá dầu thô lao dốc và các lệnh trừng phạt kinh tế lên Nga. Việc này đã khiến doanh thu của Apple và các công ty Mỹ khác tại thị trường này co lại, sau khi quy đổi ra USD. Các thương hiệu hàng tiêu dùng khác, như Samsung Electronics hay Cartier cũng đã phải tăng giá tại Nga.
Với người Nga, đồng rouble lao dốc đã khiến hàng hóa nước ngoài, từ đồ điện tử, xe hơi đến thực phẩm, quần áo trở nên đắt đỏ. Giá đôla Mỹ tại nước này đã tăng hơn 70% trong năm nay, từ 32,9 rouble hồi tháng 1 lên hơn 56 rouble hôm nay.
Cuối tháng 11, Apple đã tăng giá sản phẩm tại Nga lên 25%. Với lần tăng mới nhất này, giá iPhone bằng tiền rouble đã lên gần 70% chỉ trong gần một tháng. Táo Khuyết cũng tăng tỷ giá quy đổi nội bộ trên App Store Nga tuần trước, khiến các ứng dụng cơ bản hiện có giá 62 rouble thay vì 33 rouble như trước kia.

Paul Krugman: 'Kinh tế Nga chịu trận bởi vì sự mạnh mẽ của Putin'

Nhà kinh tế học từng đoạt giải Nobel - Paul Krugman cho rằng phong cách hành động quyết đoán của ông Putin đã làm nền móng cho cuộc khủng hoảng, nhất là khi nước Nga đang quay cuồng với chuyện vay nợ và giá dầu giảm.


Nếu bạn thích một lãnh đạo với phong cách mạnh mẽ, ấn tượng kiểu "nam nhi đại trượng phu", Tổng thống Nga Vladimir Putin chính là hình mẫu lý tưởng. Phong cách của ông Putin thậm chí chinh phục những người Mỹ theo trường phái bảo thủ. "Đây chính là hình mẫu của một nhà lãnh đạo", Rudy Giuliani, cựu thị trưởng New York nhận xét sau khi ông Putin tiến vào Ukraine mà không cần bất cứ cuộc thảo luận nào.
Tuy nhiên, Paul Krugman - nhà kinh tế học người Mỹ từng đoạt giải Nobel kinh tế nhận định ông Putin chưa bao giờ có đủ nguồn lực hậu thuẫn cho lối lãnh đạo mạnh mẽ của mình. Kinh tế Nga có quy mô gần bằng của Brazil và đang phải đối mặt với khủng hoảng tài chính có liên quan tương đối tới bản chất của chính quyền ông Putin.
Dưới đây là bài viết của Krugman trên New York Times.
putin-Nga-5287-1419225587.jpg
Tổng thống Putin trong cuộc họp báo thường niên giữa tuần trước. Ảnh: Reuters
Từ tháng 8, khi ông Putin thừa nhận đưa quân đội Nga sang Ukraine, rouble đã bắt đầu đi xuống. Nhưng vài tuần trở lại đây, đồng tiền này mới rơi tự do. Các biện pháp mạnh tay, trong đó có tăng lãi suất và gây áp lực buộc các công ty tư nhân ngừng tích trữ đồng đôla, đã được đưa ra để cứu đồng rouble. Nhưng tất cả chỉ càng chứng tỏ kinh tế Nga đang rơi vào suy thoái.
Nguyên nhân gây ra những khó khăn hiện tại của Nga là giá dầu giảm mạnh. Giá dầu đi xuống do khai thác dầu đá phiến của Mỹ tăng, cùng nhu cầu từ Trung Quốc và các nước khác giảm mạnh. Điều này gây thiệt hại nghiêm trọng với Nga khi ngoài dầu mỏ, họ chẳng có nhiều thứ mà thế giới cần. Đồng thời, lệnh cấm vận từ các nước phương tây do khủng hoảng Ukraine càng làm trầm trọng những thách thức cho kinh tế Nga.
Tuy nhiên, những khó khăn của Nga hiện tại không chỉ liên quan tới cú sốc giá dầu. Dầu lao dốc chóng mặt, nhưng rouble còn mất giá nghiêm trọng hơn. Những thiệt hại của Nga đang vượt xa lĩnh vực dầu mỏ. Tại sao lại như vậy?
Tình trạng đang diễn ra tại Nga cũng giống các cuộc khủng hoảng trước đây, như Argentina năm 2002, Indonesia 1998, Mexico 1995 hay Chile 1982. Kiểu khủng hoảng Nga đang gặp phải thường xảy ra khi một nền kinh tế bị tác động tiêu cực do vay nợ nước ngoài quá nhiều, đặc biệt là khoản vay lớn bằng ngoại tệ của khu vực kinh tế tư nhân.
Trong tình hình này, chỉ cần một cú sốc bất lợi nữa, như xuất khẩu sụt giảm, cũng có thể đẩy nền kinh tế vào vòng xoáy đi xuống. Khi nội tệ mất giá, bảng cân đối kế toán của các doanh nghiệp địa phương - với tài sản tính bằng đồng rouble nhưng nợ bằng dollar hoặc euro - sẽ nổ tung. Điều này gây thiệt hại nghiêm trọng cho kinh tế nội địa, hủy hoại niềm tin và dìm nội tệ giảm sâu.
Thông thường, một quốc gia rơi vào tình trạng nợ nước ngoài cao là do thâm hụt thương mại và phải dùng vốn vay để nhập khẩu. Nhưng Nga không hề thâm hụt thương mại mà còn thặng dư lớn nhờ giá dầu cao. Vậy tại sao nước này phải vay nước ngoài nhiều và số tiền này đã đi đâu?
Bạn có thể tìm thấy lời giải cho câu hỏi thứ hai ở những khu phố xa xỉ như Mayfair (London), hay Upper East Side (Manhattan). Ở đây có hàng dãy bất động sản cao cấp của cậu ấm cô chiêu Trung Quốc, ông hoàng Trung Đông và tài phiệt Nga. Về cơ bản, giới giàu Nga đang tích trữ tài sản ở nước ngoài và bất động sản xa xỉ là một trong những ví dụ rõ ràng nhất. Và mặt trái của những tài sản tích trữ này là làm gia tăng nợ trong nước.
Để kết thúc tình trạng này, thông thường một quốc gia trong tình cảnh như Nga hiện tại sẽ viện đến một chương trình của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), trong đó bao gồm các khoản vay khẩn cấp và tái cơ cấu nợ, đổi lại nước này phải cải cách. Nhưng rõ ràng việc này sẽ không xảy ra ở đây. Nga sẽ cố gắng tự vượt qua khó khăn của mình với các quy định như kiểm soát vốn để ngăn dòng tiền chảy ra nước ngoài.
Đây sẽ là một bước lùi với ông Putin. Chính phong cách hành động mạnh mẽ của ông đã làm nền móng cho thảm họa ngày hôm nay. Một chế độ cởi mở hơn sẽ giúp giảm tham nhũng, giảm nợ và khiến nước này dễ dàng vượt qua thời kỳ giá dầu giảm. 

Cách tồn tại ở Sài Gòn khi thu nhập vợ chồng là 12 triệu đồng

Hãy tận dụng tất cả thời gian trống ngoài giờ hành chính để kinh doanh thông qua mạng xã hội, mối quan hệ bạn bè... để kiếm thêm thu nhập.


Sau khi VnExpress.net đăng tải câu hỏi của bạn Thu Mai:"Vợ chồng thu nhập 12 triệu làm sao để sống ở Sài Gòn?”, độc giả Nguyễn Cường đã gửi đến bài viết chia sẻ về cách thức kiếm tiền ngoài mức thu nhập chính để có thể sống tốt tại TP HCM.
Tôi biết, mỗi người có một cách chi tiêu riêng, như ông bà ta thường nói "mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh". Nhất là với dân xa xứ như chúng tôi (vì tôi cũng là người miền trung vào TP HCM lập nghiệp), thì việc chi tiêu lại càng phải hợp lý và tính toán kỹ hơn.
money-setop-6512-1419307972.jpg
Biết tìm cách kiếm tiền ngoài giờ hành chính vẫn có thể sống tốt tại TP HCM.
Tôi năm nay cũng 25 tuổi, vừa ra trường. Lương tôi chỉ có 4,5 triệu đồng một tháng. Vợ cũng có mức thu nhập tương đương (chưa có con). Thế nhưng, cuộc sống của chúng tôi rất thoải mái. Vậy các bạn biết vì sao không? Đó là vì tôi thực hiện phương châm: "8 tiếng trong ngày tôi chấp nhận làm lính, tức làm công cho công ty để kiếm được 4,5 triệu tiền lương mỗi tháng. Thời gian còn lại (ngoài giờ hành chính) tôi phải làm chủ trên mối quan hệ và công cụ Internet có sẵn để kiếm tiền thêm”.
Vậy câu hỏi đặt ra là tôi sẽ kiếm tiền bằng cách nào? Thứ nhất, tôi dùng số vốn mình có (nhờ tiền đám cưới) tìm thuê một căn nhà lớn trong hẻm nhỏ gần trường đại học, cao đẳng…, rồi phân ra thành những phòng nhỏ cho thuê lại. Với cách làm này, trước tiên vợ chồng tôi có chỗ ở miễn phí lại kiếm thêm được khoản thu nhập vài triệu đồng mỗi thàng từ việc cho thuê lại.
Thứ hai, tôi tận dụng các trang mạng xã hội đăng thông tin rao vặt miễn phí nào đó, rồi kinh doanh bán hàng online. Tôi đăng các hàng hoá lên đó, cứ thi thoảng buổi tối hoặc sáng sớm tôi sẽ vào kiểm tra đơn hàng xem có ai đặt không. Nếu có, tôi sẽ hẹn họ giao hàng vào cuối tuần, còn không thì giao vào thời điểm ngoài giờ hành chính trong các ngày. Nguồn hàng thì tôi thường dò la qua các mối quan hệ bạn bè hoặc là tìm trên các trang bán hàng online có giá rẻ...
Các khoản lợi nhuận kiếm thêm này tuy không đáng là bao nhiêu nhưng nó cũng đủ để tôi chi tiêu vào việc đổ xăng, uống cà phê, quan hệ bạn bè (đám cưới, tiệc tùng,…). Còn các khoản thu nhập chính kia tôi chỉ để dùng cho sinh hoạt gia đình và vẫn có thể dành dụm được.

Tín dụng năm nay dự kiến tăng lên 13%

Đến 19/12, tăng trưởng tín dụng đạt 11,8% so với cuối năm 2013 và dự kiến hoàn thành mục tiêu đề ra cho cả năm.


Thông tin trên được bà Đỗ Thị Nhung - Vụ phó Vụ Chính sách Tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) cho biết tại buổi họp báo chiều nay (23/12). "Tăng trưởng tín dụng năm 2014 dự kiến đạt 13% trong năm 2014, hoàn thành chỉ tiêu 12-14% đề ra từ đầu năm", bà cho biết.
Theo số liệu thực tế, đến 19/12 tín dụng đã tăng 11,8% so với cuối năm 2013. Đà tăng bắt đầu nhảy vọt từ tháng 9 tới nay, khi tăng tới 7% trong hai quý cuối năm, trái ngược với tình trạng ỳ ạch của các tháng đầu năm.
Trước câu hỏi tín dụng tăng mạnh cuối năm có phải là con số ảo hay không, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng khẳng định đây là hiện tượng mang tính quy luật. “Tín dụng thường tăng thấp đầu năm và cao vào cuối năm. Có thời kỳ, tín dụng một tháng cuối năm có thể tăng từ 3-5%, do được đẩy mạnh phục vụ cho mua sắm và dữ trữ hàng Tết", bà Hồng cho biết.
Bên cạnh đó, vị này nhấn mạnh các tổ chức tín dụng cũng phải tuân thủ việc cấp tín dụng theo yêu cầu của pháp luật và báo cáo Ngân hàng Nhà nước. Sang năm 2015, trên cơ sở đánh giá cung cầu vốn, cơ quan này tính toán tăng tín dụng ở mức 13-15%.
tin-dung-NHNN-1700-1419320608.jpg
Tín dụng năm 2013 ước tăng 13%.
Cùng với đó, thanh khoản của các tổ chức tín dụng cũng được khẳng định là đảm bảo dư thừa, lãi suất trên thị trường nội tệ liên ngân hàng ở mức thấp. Điều này tạo điều kiện cho các ngân hàng giảm lãi suất.
Theo Ngân hàng Nhà nước, mặt bằng lãi suất huy động đã giảm 1,5-2% so với cuối năm 2013, lãi suất cho vay giảm khoảng 2%, đưa mặt bằng lãi suất thấp hơn giai đoạn 2005 – 2006. Lãi suất các khoản vay cũ tiếp tục được đưa về mức thấp, cho vay bằng VND có lãi suất trên 15% một năm chiếm khoảng 3,9%, giảm so với tỷ trọng 6,3% cuối năm 2013. Dư nợ có lãi suất trên 13% một năm chiếm 10,65%, giảm so với mức tỷ trọng 19,7% cuối năm trước.
Đường cong lãi suất hình thành rõ nét tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng huy động được nguồn vốn kỳ hạn dài và ổn định hơn, giảm chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ, giúp phân bổ vốn hiệu quả.
Tỷ giá và thị trường ngoại hối cơ bản ổn định, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục mua được ngoại tệ để bổ sung dự trữ ngoại hối lên mức kỷ lục. Tình trạng đôla hóa tiếp tục giảm khi tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán đạt khoảng 11,6%, giảm so với mức 12,4% giai đoạn cuối năm 2012 - 2013.
Ngân hàng Nhà nước cũng không phải tổ chức đấu thầu bán vàng miếng, góp phần hạn chế sử dụng ngoại tệ của quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng để nhập khẩu vàng trên thị trường quốc tế.